Từ chín dòng sông vọng cổ – Trần Ngọc Hưởng

Photobucket

“Hòa âm điền dã” trong thơ Trần Ngọc Hưởng

Có tập thơ đến với ta như một người tình xa lạ, ta đọc nó như khám phá, chinh phục một đỉnh núi cao đầy hào hứng, ngoạn mục nhưng cũng lắm khi cảm thấy mệt nhoài.

Lại có tập thơ đến với ta như một người tình cũ, tuy lâu ngày gặp lại, nhưng vẫn ẩn hiện những nét gần gũi, thân quen, ta đọc nó như cùng người đi dạo dọc theo những con đường, bờ sông kỷ niệm, và trên từng chặng nhàn du, ta cũng như gặp lại chính tuổi trẻ mình.

Với tôi, tập thơ Từ chín dòng sông vọng cổ của Trần Ngọc Hưởng là thuộc vào trường hợp thứ hai.

Sở dĩ tôi nói như vậy vì tôi đã đọc thơ Trần Ngọc Hưởng từ khi còn học ở một trường huyện miền Trung và là độc giả của báo Tuổi Hoa mà anh là cộng tác viên thường xuyên. Trần Ngọc Hưởng hồi đó là một cây bút của Nhóm Thơ 20, cùng với Dạ Huyền, Đan Dạ Uyên, Trần Anh Tài, Như Uyên Thuỷ… Đây là bút nhóm xuất phát từ Gò Công vào giữa những năm 60 mà tác phẩm đã được giới thiệu khá rộng rãi trên các nhật báo và tạp chí thời đó: Dân đen, Diễn đàn, Cảo thơm, Thế giới, Tin điển, Tin sống, Tin, Phụ nữ Việt….

Từ miền Trung, qua thơ Trần Ngọc Hưởng và các thi sĩ miền Nam đương thời, tôi cảm nhận được tình người và hơi thở đất đai vùng đồng bằng sông Cửu. Nhưng phải đến khi vào sống ở vùng đất này, tôi mới thực sự lý hội được vẻ đẹp của sự chân thành và giản dị trong thơ các anh. Khác với văn xuôi, cảm nhận về thơ hình như cần có một bầu khí tình cảm riêng nào đó. Chẳng hạn chỉ đến khi đi về dạy học ở miền Tây, đứng trên chuyến phà qua sông Tiền dạo cầu Mỹ Thuận chưa xây, tôi mới hiểu được những điều ẩn chứa trong mấy câu thơ Trần Ngọc Hưởng:

Bồng bềnh mấy dải sông trôi,
Một thời xoã xuống vai người chiều hôm
Cho ai lấp loáng trong hồn,
Từng con sóng réo, từng cơn khát thầm.

(Riêng với sông Tiền)

Thơ Trần Ngọc Hưởng vốn hiền lành, sóng có réo cũng chỉ là sóng nhỏ và tình có khát cũng chỉ là khát thầm. Nhưng ai bảo con sóng đó, cơn khát đó không âm ỉ đến nao lòng!

Cảm giác của tôi khi đọc thơ Trần Ngọc Hưởng giữa màu khói đốt đồng hay mùi phù sa sông Tiền không giống cái cảm giác như ngày xưa, khi là cậu học trò xứ Quảng đọc trên trang báo mà tưởng tượng về đồng bằng Nam bộ. Nó cũng gần giống như khi tôi nghe một bài vọng cổ qua giọng ca “cải lương chi bảo” giữa đất Sài Gòn vẫn không xúc động bằng một buổi trưa hè kia trong căn nhà gần bờ biển Dương Tơ, Phú Quốc, nghe tiếng xuống xề của một bà mẹ trẻ ru con mà thấy gai lạnh vì cảm thấu nỗi lòng của người xa xứ.

Trần Ngọc Hưởng quê ở Gò Công, tốt nghiệp trung học rồi lên Sài Gòn vào đại học, ra trường về Long An lập nghiệp, dựng xây tổ ấm. Từ Tân An về Gò Công đâu mấy khúc đường, vậy mà nỗi cách trở làm ray rứt hồn anh, người tự ví mình như kẻ lỡ “ăn phải bùa mê thị thành”:

Mười năm khuất một nẻo về,
Mòn đôi mắt ngóng bên lề phố khuya.

(Tiền Giang)

Không lạ gì, khi sông Tiền, Cầu Nổi, Gò Công, Mỹ Tho, Vĩnh Bình… cứ mãi hiện về trong thơ anh như một nguồn suối mát múc hoài không cạn nước. Anh viết về ngôi trường tỉnh lỵ:

Nhớ trang vở cũ thương trường tỉnh,
Thương tiếng chuông tan, nhịp thước buồn.

(Qua đò Cầu Nổi)

Làm ta liên tưởng đến hai câu thơ trong bài Trường huyện của Nguyễn Bính:
“Em đi phố huyện tiêu điều quá
Trường huyện giờ xây khác kiểu rồi”.
Nhưng kết cục của trường-huyện-Nguyễn-Bính là chia xa biền biệt, còn kết thúc của trường-tỉnh-Trần-Ngọc-Hưởng là một happy-end: đôi bạn ngày xưa tái ngộ thành đôi lứa trên một chuyến phà đời:

Lòng ta nhớ mãi thương ngày đó
Áo tím bay hoài mưa bụi rơi
Đôi mảnh lòng son cùng sánh bước
Trăm năm trên một chuyến phà đời.

Trần Ngọc Hưởng tin, và ta cũng tin cùng với anh, là bao lâu anh còn cầm bút, thì bấy lâu anh còn cho ra đời những câu thơ viết về quê mẹ:

Tôi còn gửi tặng ngàn câu
Khi còn lớ ngớ bên cầu nhân gian
Gò Công ơi! Nắng mơ tan!
Tôi đem kỷ niệm dát vàng Gò Công.

(Tôi còn gửi tặng)

Đó là ánh nắng toả xuống trên dòng sông Tiền, cũng là ánh nắng phản chiếu vào lòng anh và toả ra trên những dòng thơ anh. Như cách nói của Trần Ngọc Hưởng, đó là cái “hồn rơm rạ” vẫn đi theo anh qua những nẻo đường quê, lạc vào chốn thị thành:

Xa lâu ngày lạc mất quê
Chỉ giùm tôi một lối về nhà xưa
Đâu rồi vách gió phên mưa
Đâu bờ cỏ mịn? Đâu mùa trăng ngân?
……
Rạt rào lá cỏ vẫn xanh
Tôi đi tìm nhặt bóng mình đánh rơi
Chiều im cố nín lặng lời
Đâu màu hoa của một thời đã xa?

(Rơm rạ thoảng hương)

Cho nên dù viết về quê hương mới Tân An, về Cần Thơ, Đồng Xoài, Vĩnh Hưng, Cần Giuộc, Đức Hoà hay Mộc Hoá…, thơ Trần Ngọc Hưởng vẫn thoảng mùi hương thơm rơm rạ và ánh lên màu nắng mơ tan đó. Để mượn lại nhan đề một tác phẩm của André Gide, có thể nói thơ Trần Ngọc Hưởng cũng là một khúc “hoà âm điền dã”. Đường thơ của anh đi xa hơn, về với sông Hồng, sông Hương vẫn mang theo tâm hồn ấy, tâm thức ấy của một nhà thơ đồng bằng sông Cửu Long:

Tôi mang đủ chín dòng sông
Sáu câu vọng cổ xuôi dòng Hương Giang
Thuyền ai mắc cạn thơ Hàn
Về thăm Vỹ Dạ muộn màng đêm nay.

(Đêm Vỹ Dạ)

Nhưng đừng ai nghĩ rằng trên hành trình thơ của mình, cảm hứng và tình điệu thơ Trần Ngọc Hưởng không hề thay đổi. Khi viết về Huế, chẳng hạn, cảm hứng thiên nhiên của anh được thể hiện khác hẳn và quan trọng hơn là cảm nhận về chính bản thân mình cũng không còn như cũ:

Lá vèo trước cổng vào thu
Quanh đây lãng đãng sương mù nghìn năm
Mưa trời tiếng vọng âm âm
Một tôi tâm thức đôi phần quạnh hiu.

(Mưa Huế)

Hẳn nhiên cái tâm thức “đôi phần quạnh hiu” đó ta không dễ tìm trong những bài thơ viết giữa đồng bằng lộng gió.

Có thể nói con người Trần Ngọc Hưởng sinh ra là để cho thơ. Đời anh miệt mài làm thơ, hoạ thơ, bình thơ. Từ khi được thi sĩ Kiên Giang giới thiệu trong mục “Mái nhà thơ” trên báo Tia sáng năm 1964, đến khi được thi sĩ Trinh Đường chọn in trong tuyển tập Thơ Việt thế kỷ XX, Trần Ngọc Hưởng đã trải qua một chặng đường dài của sáng tạo, với không ít giải thưởng văn chương. Nghề nghiệp và năng khiếu đã giúp anh trở thành một trong những người bình thơ cổ điển và hiện đại có uy tín trong nhà trường. Thơ, với Trần Ngọc Hưởng như nước uống, như khí trời. Không sợ quá lời nếu nói rằng anh không thể sống mà thiếu thơ.

Tôi đặc biệt thú vị với những bài cảm tác về những nhà thơ tiền bối. Anh có một cách riêng để thâm nhập và phác hoạ những thế giới nghệ thuật đã gián cách qua thời gian. Trong tập này, cũng như tập Chân dung thơ trước đây, khi viết về Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…, Trần Ngọc Hưởng đã tìm được một ngôn ngữ tương thích với phong cách của nhà thơ. Xin dẫn vài khổ thơ trong bài Trăng Phan Thiết làm thí dụ:

Tiếng sóng gào man dại
Tiếng gió rít hoang sơ
Lòng ai xưa bão cát
Quặn thắt đến bao giờ?
Trăng thất tình ứa máu
Hắt hiu lầu Ông Hoàng
Từng giọt từng giọt nhỏ
Lãng đãng trên đồi hoang.

Nhưng dù có thỉnh thoảng đi xa khỏi chính mình, Trần Ngọc Hưởng vẫn sớm quay về với bản thân anh. Người đi xa lâu ngày, khi trở về, có ai hỏi cũng bảo chỉ quê mình là đẹp nhất. Huống chi Trần Ngọc Hưởng, cả đời gắn bó với mảnh đất đã nuôi nấng thơ anh, nuôi nấng tình yêu của anh. Đọc Trần Ngọc Hưởng, ta cầu cho tình yêu và tình thơ đó suốt đời được nuôi dưỡng và đơm hoa kết trái.

Huỳnh Như Phương

TỪ SUỐI NGUỒN XANH

Hơn 30 năm nay, chưa từng đọc hết một tập thơ. Cũng một phần nào vì hoàn cảnh. Một người suốt mấy mươi lăm lao động cực nhọc thì “cơm áo không đùa với khách thơ” cũng là sự thường tình.

Chiều nay, đi đồng về thấy trên bàn có một tập thơ : “Chắc có lẽ con gái đem về từ đâu đó; cô bé muốn ba phải đọc chăng”. Thoáng mở thấy 99 bài tứ tuyệt lại đắn đo. Một lượng thơ khổng lồ chỉ trong một tập thơ khiến người muốn đọc cứ ngại ngần.

Bỏ qua những lời giới thiệu đập vào mắt là “Gánh nặng đường chiều”; chữ dùng thấy quen quen – Phải rồi “Đường xa gánh nặng” biểu trưng của nhà thơ Sông Đà Núi Tản giáo chủ của đạo “Thiên Lương”.
“Đường xa gánh nặng xế chiều,
Cơn giông, biển lớn, mái chèo thuyền nan”.

Đọc qua bài thơ và tự nhủ lòng nên đọc nghiêm chỉnh và ghi ra giấy những gì hiểu được gọi là chút lòng thành trân trọng với tâm huyết người thơ.

Bốn câu thơ đã làm khơi dậy hồi ức thuở ấu thơ bên dòng sông Vạn thẩn thờ đón mẹ buổi chiều sương. Đường xa, bóng xế mẹ thường dọn hàng khi hồi chuông Thiên Mụ gõ tiếng đầu tiên. Đường làng Kim Long, Phú Xuân, Vạn Xuân ngày xưa lợp toàn cây lá. Mẹ oằn vai gánh nặng liêu xiêu trong bóng chiều nhạt nhòa nôn nóng về nhà với lũ con thơ trước khi tiếng cuối cùng của hồi chuông chấm dứt. Hình ảnh mẹ ngày ấy chính là :

Chợ tan ngày xuống liêu xiêu,
Lưng oằn gánh nặng đường chiều, mẹ ta.

Và cứ thế, năm qua tháng hết, sáng tinh mơ, chiều tối lặng, mẹ đã vấp ngã biết bao lần giữa hai hồi chuông triêu mộ. Hồi chuông giục giã, khuyến khích kẻ tục trần men mùi đạo và chính hồi chuông bổng bay thanh thoát đó cũng đày ải bao kẻ thương sinh ! Nhịp mỏ nay, tiếng chuông xưa; thân phận của mẹ ta sao mà da diết. Cái vấp ngã ở đây phải chăng đó chính là thân phận của bào ảnh nhân sinh hay thực thể của kiếp người nhân thế.

Đi qua nhịp mõ chùa xa ..
Bồn chồn vấp tiếng ni già tụng kinh !

Xin cảm ơn nhà thơ những đêm “thắc thỏm mộng” đã khơi dậy cho người đọc những xuyến xao, thao thức cõi hoang tàn vắng lạnh thê lương mà vốn dĩ vì cơm áo mưu sinh đã chai lò theo năm tháng.

Hương tàn khói lạnh … khu nhà cũ
Lau xám chiều hoang mộ mẹ già

Chỉ 14 chữ rất bình thường nhưng vẽ được một bức tranh thủy mặc tiêu điều, ảm đạm làm da diết hồn người. Nhớ thuở thiếu niên đọc trong “Tang thương …” bài thơ cổ vô danh thường cho là khó có cảnh nào sầu thảm hơn :
“Túc thảo phần tiền thê muội hận
Hoang khâu nhất lũy táng tam hồn”
(TTNL)
Nhưng so với “lau xám chiều hoang” e rằng kém phần thê thiết tiêu sơ.

Bước qua “Trăng quê” tâm tư nhà thơ đang khắc khoải giữa hoa đèn phố thị. Cảm nhận được cái bức rức, quay quắt xốn xang của nhà thơ với ánh trăng vàng chốn cũ – Người đọc cũng từng thèm một ít sợi vàng, sợi trắng để trung hòa bớt cái nhợt nhạt, kiêu kỳ của ánh điện vàng chói chang chốn thị thành hoa lệ – ở đây xin cảm nhận sự chung thủy và tâm hồn nhã đạm của nhà thơ qua mấy câu :

Sao lòng ai cứ xốn xang
Cứ quay quắt nhớ ánh vàng trăng quê …

Phải nhận ra rằng ở đây nhà thơ cùng Tố Như chính là những tri âm. Cũng tiếc cho nhà thơ không sinh cùng thời để cùng với thiên tài so lời hoa gấm. Cũng trong cảnh xa quê và quay quắt với vầng trăng chốn cũ tâm sự của Tố Như có khác chi.
“Lòng quê lai láng gương thềm rọi
Lệ cũ đầm đìa tiếng nhạn qua”.
(ND-Thơ chữ Hán)
Vì là tri âm nên nhà thơ đã thấm đậm nỗi đau của nhà thơ qua mười năm gió bụi đất khách quê người.

Một đời gió bụi khuya thao thức
Giằng xé tâm can đến tận giờ !

Và có lẽ đoạn trường tân thanh được thai nghén trong những “khuya thao thức” đó và phiên bản cuộc đời Tố Như được thể hiện qua thân phận nàng Kiều với mười lăm năm phong trần gió bụi, đắm nguyệt chìm hoa mà:
“Tiếng kêu như cắt ruột người
Xốn xang vọng đất, vọng trời ngàn thu !”
Tiếng kêu đó phải chăng :
“Ôi Kim lang, hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !”

Ngỡ ngàng đến “Tình si” với câu :
Mắt nghìn sau ướt lệ người nghìn xưa.

Người đọc rất thích hai từ “ướt lệ”. Ngoài sự đồng cảm với vị quân vương tài hoa lãng mạn còn chứng tỏ nhà thơ giàu lòng nhân ái và nhiều tài hoa trong ngữ nghĩa ngôn từ. Trong văn chương nhiều người đã sáng tạo nhiều từ như “từ lệ”, “dư lệ”, “thùy lệ”, “nghiêm lệ”, “u lệ”; còn từ ướt lệ đã được sử dụng nhiều nhưng cũng chỉ cho một nghĩa ướt + lệ (tính từ + danh từ). Ở đây có thể chẻ đôi từ “ướt lệ” và câu thơ này tùy theo cảm nhận mà có các cách đọc khác nhau.
Mắt nghìn sau ướt lệ – người nghìn xưa
Mắt nghìn sau- ướt lệ – người nghìn xưa
Mắt nghìn sau ướt- lệ – người nghìn xưa
Trong câu thơ này “ướt” ngoài nghĩa của một tính từ còn có thể hiểu ngầm ướt như là một động từ (ướt tương đương với khóc, chảy, ứa). Tác giả không hướng dẫn cách đọc cho câu thơ này bằng các dấu; nhưng từ đứng trước nó “mắt nghìn sau” đã cho ta hiểu và cách đọc (mắt nghìn sau ướt lệ vì lệ người nghìn xưa).

Nói đến “tình si” lại gặp nhà thơ si tình Phạm Thái. Viết đến đây trước mắt người đọc hiện lên hình ảnh chàng thi sĩ đa tình dưới lốt nhà sư, vai mang bầu rượu đang quỳ trước mộ Quỳnh Như kể lể “ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên; mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh” và tâm đắc với câu thơ táo bạo rất mới của nhà thơ.

Chẳng mê chuông mỏ hay kinh kệ
Chỉ niệm người tình, niệm rượu thơ

Nhà sư “niệm tình”, “niệm rượu” ý tưởng lạ chẳng kém gì “Bồ tát Lỗ Trí Thâm niệm mộc tồn”.
Đi đến với “gió Vũng Tàu” người đọc miên man với câu thơ xưa của vị minh quân Hồng Đức khi đến đèo Ngang.
“Thà là cúi xuống cây đòi sụt
Xao xác trông lên sóng muốn trèo”.
(HĐ.QATT)
“Cây đòi sụt”, “sóng muốn trèo” ở đây chỉ là trạng thái tự nhiên của thiên nhiên được nhân cách hóa qua “mắt nhìn” của vị vua tài hoa. Trong “gió Vũng Tàu” khi :

Tóc cũng sổ bung theo sóng biển
Chồm lên từng đợt cứ nôn nao

Thì người thơ đã thả hồn mình vào đó. Ở đây có một sự đè nén, dồn ứ của tâm thức lãng mạn, một sự nôn nao chờ đón để rồi vỡ òa khi

Tóc bay để mặc, em đừng buộc
Dẫu rối lòng anh, gió Vũng Tàu

Sao lại không ghen được, gió thường suồng sã và hay trêu hoa ghẹo nguyệt. Đã từng có
“Vô tình để gió hôn lên má”
(HMT)
và “Tóc em dài sao em không bối
Để tóc dài bối rối dạ anh”
(Ca dao)
Nên mặc dù rối lòng, rối dạ nhưng biết làm sao ngăn được mắt thế nhân trước hình ảnh tuyệt vời, làm sao không bồn chồn khi trong cõi mơ hồ nào đó niềm lo sợ vu vơ chợt hiện về trong tâm thức.

Anh lo bỗng chốc thành hư ảo
Chốc bỗng mây theo gió của trời

Mây theo gió và biết đâu một ngày lỗi hẹn em quên luôn cây đa, bến cũ, bóng chiều xưa; “quên câu hẹn núi”, “thề sông” và
“Quên luôn bến cũ bão giông
Bỏ luôn tình cũ, phiêu hồng biển dâu”
Và khi ấy anh chỉ còn “Lòng anh cái bãi vàm Bao Ngược
Từ phút xuồng lui giữa dấu dầm ..”
Chỉ còn “dấu dầm” như một chứng tích kỷ niệm cuối cùng sau khi đã :

Đầu sông cuối bể cũng liều
Bước trèo, bước trật liêu xiêu bóng mình !

Đó là phận số để rồi kẻ ngược người xuôi sông hồ cách trở tình đã chia xa. Nhưng … tạo hóa đã không nỡ vô tình với khách tài hoa nên đã cho những kẻ
“Cùng một lứa bên trời lận đận”
(TBH)
“Nổi trôi một lứa bên trời gặp nhau”
Cho bổng trầm đàn phách hòa âm hợp nhịp. Và hạnh phúc lứa đôi của đời thường được tận hưởng trong “suối nguồn xanh”

Gặp em rồi suối nguồn xanh
Bao năm đủng đỉnh – đạo tình, duyên thơ
Chập chờn khói mộng, sương mơ
Thắm vườn mai cũ, mượt bờ cỏ xưa

Giang hồ đã mỏi, rũ áo phong sương sau những tháng năm “lấn chen khói phố bụi phường”; thi nhân đã được đắm chìm trong suối nguồn khói sương, mơ mộng, tình thơ yên ả.

Chợt yên ả một suối nguồn là em …”

Có gì đẹp hơn, hạnh phúc hơn khi thực mộng bây giờ đã hòa quyện nhau làm một. Bây giờ không còn cảnh “ước cũ duyên thừa”, “đá mòn, rêu nhạt”, “nước chảy hoa trôi” mà là một miên viễn một bến bờ hạnh phúc và
“Mãi mãi em là ngọn lửa”
Ngọn lửa sẽ lặng lẽ, âm ỉ cháy bất tận giữa bếp nhà khơi nguồn cho bao mạch sống của lứa đôi được ủ bởi hương đồng gió nội và cùng nhau

Buộc ràng dần bạc mái đầu
Tóc xưa giờ ngã trắng màu tóc sương

Tuy tóc đã ngã màu sương nhưng thủy chung vẫn bền chặt và hình ảnh trong mắt nhau chẳng khác lúc đầu.

Anh xưa, nay đã làm ông
Sao em nhìn mãi vẫn không thấy già
Em xưa, nay đã thành bà
Sao anh nhìn mãi vẫn là trẻ trung

Trong cuộc sống thường có những lúc trầm, lúc bổng, bao lo toan tất bật của đời thường và những đắng cay ngọt bùi đan xen là lẽ thường tình nhân thế. Thơ “Tặng vợ” của người rất dung dị nghĩa tình và thực cảm. Có lẽ không còn một lời nịnh đầm, ân hận nào đáng yêu hơn.

Một đời làm vợ làm chồng
Chưa mời em chén rượu nồng đầy vơi
Nhưng cay đắng lẫn ngọt bùi
Biết bao lần đã sẻ đôi vơi đầy

Tập thơ nhiều ngôn từ dung dị, biểu cảm, còn rất nhiều hình ảnh sống động, gợi nhớ rất dễ thương trong tình yêu và cuộc sống.

Gió day dứt tiếng chuông chùa
Em về nón mỏng chiều mưa nghiêng buồn

Day dứt là một từ biểu cảm diễn tả tiếng chuông đang bị gió giật đứt khúc, vừa diễn tả ray rứt nội tâm giữa thanh thoát và tục lụy của không gian, thời gian u buồn, trầm lắng, mong manh, lẻ loi.
Ai riêng khép mở một đôi tà
Đôi tà khép mở này với : “Gói vào giấy mỏng trang thư
Cho ai bấn bíu nhận từ tay nhau”
Để cho :
Mắt ai lúng liếng sau vành nón
Và làm cho người :
Quên khuấy trống trường giục nẻo xa
làm gợi nhớ thuở thiếu thời của một thế hệ đầy lãng mạn của những chàng trai, cô gái chưa vẫn đục bởi vật chất văn minh.

Đọc qua toàn bộ tập thơ, người đọc thấy người thơ sao có vẻ lạc lỏng giữa dòng đời hoa gấm. Phải chăng vì thiếu khách đồng điệu, thiếu bạn tri âm nên nhà thơ phải mãi tìm kẻ thẩm âm trong kho tàng văn học cổ. Nhiều dáng xưa rõ nét trong tư tưởng nhà thơ. Có lẽ với tâm hồn bình dị, không thích bon chen giữa chốn thị thành nên nhà thơ đã mỏi mệt thật rồi. Có lẽ nên quay về thôi, quay về thôi !… quay về với thú điền viên, hóa thân vào thiên nhiên cây cỏ sống cuộc đời ẩn sĩ để “ươm ca dao, trồng tục ngữ” vui thú với gió bãi trăng ngàn.

Men nồng chuếnh choáng ngùi nhân thế
Ngước mắt trông vời … khói trắng bay

Rất mong một ngày nào đó nhà thơ sớm tròn ước nguyện. Riêng người đọc xin gửi tặng hai câu thơ gọi là đa tạ người thơ:

Tiếng được mất mặc bon chen trần thế
Đàn không dây âm trãi núi sông dài.

Tuyên Thạnh, Mộc Hoá : 29.09.07

Đạm Thuỷ

Ghi chú :
* Trời u lệ đìu hiu sao Bắc Đẩu (NV-Hoa Lệ)
* Nhìn nghiêm lệ lòng con quay quắt (LL)
* Giận anh tôi ép dòng dư lệ (T.T.KH)
* Ta van những đóa sao thùy lệ (Đ.H)
* Từ lệ theo lần những bước đi (ĐT)

Cứ ngồi đây thôi

CỨ NGỒI ĐÂY THÔI

Thơ Ngô Hữu Đoàn

Nhà xuất bản văn nghệ

Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Đức Bình

Biên tập: Thanh Phượng

Sửa bản in: Thanh Loan – Thành Phát

Trình bày: Nguyễn Tam Phù Sa

Bìa: Tác giả

MỘT SỐ BÀI TRONG  TẬP THƠ CỨ NGỒI ĐÂY THÔI

NHỚ TRƯỜNG XƯA

Trường lớp ơi dệt chi ngày thơ ấu
Trời sinh chi cây phượng đỏ mỗi hè
Gió làm chi công việc chở tiếng ve
Cài lên tóc những nỗi niềm nhung nhớ.

Những kỷ niệm mang sắc màu sách vở
Vào trong tim xây tổ tự bao giờ
Tà áo em trên phố mỏng như tơ
Cũng xô ngã… vỡ òa trong ký ức.

Nhớ người thầy hiền vui và mẫu mực
Nhớ bạn bè thường bá cổ quàng vai
Nhớ bác phu trường vui tính khôi hài
Nhớ đêm trực trường hái dừa bị bắt.

Nhớ cánh cửa xanh tên em anh khắc
Mũi compa nhọn hoắt dễ gì phai
Chiếc bàn gãy chân cuối lớp nằm dài
Cũng giành chỗ hẳn hoi trong trí nhớ…

Chẳng biết thầy cô ai về ai ở
Chẳng biết bạn bè trôi giạt về đâu
Chẳng biết người em chớm mối tình đầu
Đã đọc thư tình nhét trong bìa sách ?

Đêm nay ta một mình bộc bạch
Nhớ mãi thôi ! ôi kỷ niệm học trò
Trời sinh chi loài hoa màu máu đỏ
Gió làm chi cho chảy đẫm tiếng ve.

CHIỀU

Một chiều ôm lấy một chiều
Lá vàng lợp mái tranh xiêu Mẹ ngồi
Thoạt nghe tiếng lá đùa trôi
Giật mình mẹ bảo “con tôi đã về” !

VỀ QUÊ

Tôi về thăm lối mòn xưa
Thăm mùa lúa trổ hương đưa ngát phòng
Trường xưa một nét rêu phong
Thầy xưa có lẽ lưng còng mắt nheo
Đường làng một lối cong queo
Xuống sâu rồi chợt lên đèo vút cao
Ngày xuân nghe lá thì thào
Đêm nhìn con suối chở sao vội vàng
Cô em đôi mắt mơ màng
Nhìn tôi rồi chợt nhìn sang nơi nào.

Nay về trời vẫn giăng cao
Đồng xưa vẫn tiếng rì rào thân thương
Lối xưa giờ đã thành đường
Người xưa có lẽ vấn vương … nơi nào !
Tôi về đêm ấy chiêm bao
Cánh mai trắng cũ rơi vào suối xưa !

BÀI THƠ ĐÊM VALENTINE

Anh viết cho em bài thơ đêm nay
Đêm ngày xưa anh gọi là “cơ hội”
Đêm mà đất trời ngày xưa quên tối
Để đặt tên riêng cho những cuộc tình.

Nhớ phút nghẹn ngào buổi tối khai sinh
Sau quá dài một mối tình thai nghén
Đôi má em những giọt trăng rón rén
Chợt vỡ òa… trăng em ! trăng anh !

Anh viết cho em bài thơ đêm nay
Đêm em bảo tình yêu vào lễ hội
Đêm ngày xưa mấy tuần em hờn dỗi
Đèn thôn quê không tỏ nổi tháng ngày.

Anh viết cho em bài thơ đêm nay
Anh không gọi bằng tiếng Tây khó nhớ
Anh không có túi kẹo màu rực rỡ
Quà cho em là… cái nhớ tơi bời.

Trong cái tơi bời anh sẽ gởi em
Một ngụm nước từ muôn trùng biển nhớ
Một phần lẻ cái hôn đầu trăng vỡ
Một lời yêu giữa chữ nghĩa bạt ngàn.

Anh viết cho em bài thơ đêm nay
Đêm em bảo tình yêu vào lễ hội
Đêm mà đất trời ngày xưa quên tối
Để đặt tên riêng cho những cuộc tình.

TRĂNG XÓM NÚI

Mảnh trăng vỡ vụn rơi đầu dốc
Hoa bưởi dậy thì, hương bưởi bay
Em ngồi nghiên bút trong ô cửa
Đèn, sách vô tình uống trăng… say !

Nhà em phố núi trăng thành tuyết
Lạnh buốt đồi hoang, lạnh mái tranh
Có người xóm dưới yêu hoa bưởi
Len lén trèo lên… ngắt lá xanh !

Trăng nghiêng mây tóc làm trăng khuyết
Một cõi trời riêng cho riêng trăng
Rồi trăng đi ngủ khi đèn tắt
Vụn vỡ trời riêng, hương bưởi bay …

THÂN PHẬN

Em trượt chân té xuống đời anh
Cho xiêm y trở thành kỷ vật
Gót son hồng nhuộm màu tro đất
Giấc mơ thơm khuyết tật… chòng chành.

Em trượt chân té xuống đời anh
Cho cơm áo níu chiều ra phố
Đêm ngồi khâu tháng ngày loang lổ
Nỗi âu lo thường trú… rêu xanh !

Quà tặng mùa đông

Đọc tập thơ “Quà tặng mùa đông” của Thanh Trắc Nguyễn Văn

Nhờ một chút duyên rất tình cờ, tôi được nhà thơ nữ Thái Thanh Nguyên trao bản thảo tập thơ “Quà tặng mùa đông” của một tác giả chưa quen, nói chính xác là chỉ gặp vài lần trên báo và một số tuyển tập thơ của nhiều tác giả – đó là Thanh Trắc Nguyễn Văn.

Thật ra trong sáng tạo nghệ thuật – những trường hợp “văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình” như vậy không phải là hiếm hoi. Bởi vì dù sao, khi ta đọc tác phẩm của một ai đó thì cũng có nghĩa là ta đã được diện kiến với người viết thông qua diện mạo đứa con tinh thần của tác giả. Bây giờ, xin được trở lại với tập thơ “Quà tặng mùa đông” của Thanh Trắc Nguyễn Văn

Với hơn 60 bài thơ đa phần là ngắn, tác giả đã đề cập đến nhiều cung bậc khác nhau của đời sống tình cảm, đời sống xã hội – vốn dĩ không bao giờ đơn giản. Những “hỷ, nộ, ái, ố…” tưởng đâu đã quá quen thuộc đến độ phải nhàm chán giữa bộn bề lo toan của cuộc sống đời thường, bỗng trở nên mới mẻ trước cái nhìn thấu cảm của đôi mắt thi nhân:

Gặp nhau không nói được lời
Đành nâng chén rượu giữa trời mưa bay
Chén em rót mãi chẳng say
Chén ta chưa hứng đã đầy hoàng hôn

(Uống rượu với người yêu cũ)

Nhớ thương buộc lại nhà thơ
Mười năm bão táp vẫn dờ dật bay

(Nuối tiếc)

Dường như tác giả tỏ ra khá chắc tay ở các thể thơ truyền thống mà lục bát là một ví dụ rõ nét. Ở những bài thơ tự do trong tập, thỉnh thoảng người đọc cũng nhặt ra được nhiều câu thơ đầy cảm xúc và tâm trạng, chẳng hạn như:

Đất chưa hoá vàng đã từng giờ rỉ máu
Bao nhân nghĩa cuộc đời theo nước lã trôi sông

(Cơn sốt đất)

Nửa đêm thức giấc đầu vai cụng
Mộng mị cạn dần lệ rót vẫn chưa vơi

(Rượu tha hương)

Ảnh ảo là ta hay ta ảo ảnh
Soi nửa đời người sao chỉ thấy nửa đời gương

(Soi gương)

Một số ít bài còn lại trong tập, nhất là những bài thơ dài thường rơi vào tình trạng chung: dàn trải và lập lại. “Phóng sự đêm Sài Gòn” là ví dụ điển hình cho nhược điểm này.

Dẫu sao, đây cũng chỉ là những cảm nhận ban đầu, mang đậm dấu ấn chủ quan, xin được giãi bày đôi điều cùng tác giả Thanh Trắc Nguyễn Văn – một người làm thơ tôi chưa được quen nhưng cũng không đến nỗi hoàn toàn xa lạ

Phan Thiết, mùa hạ 2007
ĐỖ QUANG VINH

Thay lời kết

Em về đeo thánh giá
Dắt ta kẻ tội đồ
Sáng danh là Thiên Chúa
Tội danh là… làm thơ!
Bờ vai em tròn nhỏ
Đưa ta đến dại khờ!…

Vậy đó! Thơ văn bao giờ cũng là cái nghiệp; và đã cái nghiệp thì dẫu làm nghề gì, ở đâu, giàu có hay nghèo khổ cũng không thể bỏ được thơ.

“Tội danh là… làm thơ”, xem ra cách tự trào này cũng không phải là không có lý bởi chính nhà thơ không ít đã gây ra hoặc rơi vào khoảnh khắc ngẩn ngơ trước cái đẹp, cái buồn vô cớ, vu vơ… Riêng với Thanh Trắc Nguyễn Văn hẳn còn đi xa hơn những cảm xúc đó vì anh vật vã, vì anh trăn trở nên thơ anh chất chứa nỗi niềm:

Người ta xúm xít làm thơ
Tôi về gác bút ngồi mơ làm người
Làm người biết khóc, biết cười
Biết yêu thật khó gấp mười làm thơ.

(Làm người)

“Quà tặng mùa đông” là tập thơ thứ tư của anh, chưa kể anh đã góp mặt gần hai chục tập thơ có giá trị đã ra mắt bạn đọc.

Chỉ qua tập thơ “Quà tặng mùa đông” cũng dễ nhận ra, Thanh Trắc Nguyễn Văn đến với thơ không chỉ vì yêu thơ mà cái “nghiệp thơ” đã buộc chặt vào anh không hề lơi lỏng và có lẽ thế nên đọc thơ anh, ta sẽ gặp ít nhiều đồng cảm.

TRẦN DUY LÝ

Đông y học tân biên khái yếu

ĐÔNG Y HỌC TÂN BIÊN KHÁI YẾU
Tập 1 – 2: Lương y Thái Thanh Nguyên
Tập 3 – 4: Lương y Phan Trọng Phục
Biên dịch

Chịu trách nhiệm xuất bản: Mai Thời Chính – Thái Thăng Long
Biên tập: Nguyễn Trường – Ngô Thị Hạnh
Bìa: Lê Ký Thương
Trình bày: Quỳnh Dao

NXB Thanh Niên 2007
Doanh nghiệp Thành Nghĩa ( Nhà sách Nguyễn Văn Cừ ) phát hành

Lời giới thiệu

Đông y học là một bộ phận trong nền tảng triết luận của Đông Phương học – đó là một hệ thống học thuật mang tính tiên đề đã được trải qua mấy ngàn năm thực nghiệm – đến nay đã được đúc kết tinh túy và bổ sung rất hoàn chỉnh. Qua đó, Đông y học đem lại nhiều thành tựu lớn trong công tác bảo vệ sức khỏe và nghiên cứu điều trị bệnh tật cho con người ở đa phần quốc gia Đông bán cầu.

Ngày nay việc nghiên cứu Đông y đã lan rộng khắp thế giới nhờ ưu thế sử dụng nguồn dược liệu từ động thực vật thiên nhiên ít gây tác dụng phụ. Một ưu điểm khác của Đông y học là một phần trong đó đã trở thành bộ môn thực dưỡng trị liệu phổ biến, mọi người đều có thể tự nghiên cứu, chọn lọc, áp dụng thích hợp, cũng mang lại khá nhiều hiệu quả.

Tài liệu về Đông y học trên thế giới hiện nay rất phong phú được xuất bản từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, Pháp… Tuy nhiên, việc dịch thuật sang Việt ngữ hãy còn thưa thớt, chậm trể, thiếu tính cập nhật.

Bộ sách Tân Biên Trung y học khái yếu của Nhân dân vệ sinh xuất bản Xã, xuất bản tại Bắc Kinh – Trung Quốc, do tập thể Trung y bác sĩ của Trung y học viện các tỉnh Quảng Đông, Hồ Nam, Quảng Tây… Trung Quốc đồng biên soạn, là bộ sách Đông y được viết bằng Trung văn rất công phu và tương đối đầy đủ. Trong đó gồm:

Phần 1: Lý luận cơ bản, có 9 thiên: Âm dương ngũ hành – Tạng phủ – Khí huyết tinh tân dịch
 – Kinh lạc – Bệnh nguyên – Tứ chẩn – Bát cương biện chứng – Tạng phủ hiện chứng luận trị – Ôn nhiệt bệnh biện luận.

Phần 2: Trị pháp phương dược, có 3 thiên: Nguyên tắc trị liệu – Tri thức cơ bản phương dược, dược vật – Trị pháp và phương dược.

Phần 3: Phòng trị bệnh tật, có 2 thiên: Diệt bệnh trừ hại – Biện chứng và trị liệu bệnh tật.

Thiết nghĩ bộ sách rất có giá trị làm tư liệu học tập, tham khảo đối với người làm công tác Đông y nên chúng tôi kết hợp với các vị lương y thâm niên ưu tú tiến hành biên dịch sang Việt ngữ và sắp xếp lại thành 4 quyển:

Quyển 1: Lý luận cơ bản và trị pháp

Quyển 2: Phương tễ

Do lương y Thái Thanh Nguyên thực hiện

Quyển 3: Dược vật

Quyển 4: Bệnh học

Do lương y Phan Trọng Phục thực hiện

Nội dung của mỗi tập có nói rõ nguyên lý sâu xa và thực tiễn tính của y học cổ truyền đồng thời kết hợp những phát minh từ nghiên cứu chứng nghiệm của Y học hiện đại.

Trong việc biên dịch, phương pháp diễn đạt hầu Việt hóa thuật ngữ, các lương y đã hết sức cố gắng vận dụng kiến thức và lòng nhiệt tình yêu nghề để giới thiệu bộ sách với quý đồng nghiệp và các bạn yêu thích thu thập tư liệu về Đông y học. Tuy nhiên nếu có sơ sót gì mong được quý vị cao minh đóng góp thêm.

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

   

Biêng biếc phù du

Biêng biếc phù du
Thơ Thái Thanh Nguyên

Nhà xuất bản Thanh Niên
Chịu trách nhiệm xuất bản: Mai Thời Chính
Biên tập: Hoàng Văn
Bìa và trình bày: Thái Thanh Nguyên
Tranh bìa và minh họa: Nguyễn Hữu Nam

***

Ta cùng em lướt thuyền thơ
Đưa câu Bát nhã vỗ bờ tử sinh
(trích thơ Thái Thanh Nguyên)

***

Kéo dài ngọn bút thiên thai
Trăm năm chưa vẽ hết ngày trần gian
(trích thơ Thái Thanh Nguyên)

Gương em

Nửa đời vẫy mực mài son
Điểm ra của cải em còn chiếc gương
Ta soi – trong sáng diệu thường
Ngó vào lấp lánh thiên đường tuổi thơ
Trông ra bát ngát phương chờ

1983
Thái Thanh Nguyên

Thấy

Thấy sanh diệt
không buông
thì sanh diệt

Thấy hư không
liền bám
thì rơi

Thấy không – không thấy
hỡi ơi !
đều lang thang
giữa luân hồi – vô sanh

1984
Thái Thanh Nguyên

Vịnh đò

Ngửa lòng hồ hải phơi trên sóng
Mắt ngọc hoen sương má nhạt hồng
Một lối xuống lên còn chật chội
Đôi bờ qua lại hãy bềnh bồng
Thuận tình đẩy mái đằm thân mỏng
Ngược gió buông lèo xoải kiếp không
Mặc kẻ lâng lâng người thỏa thích
Đón đưa trăm mối tối nằm chong

Cao lãnh, 1987
Thái Thanh Nguyên

Không đề

Ước mong …
tìm gặp …
đam mê …
là thuyền hay sóng ?
lối về
… thênh thang

1988
Thái Thanh Nguyên

Độc hành

Một mình cất bước say
Ngan ngát lá vàng bay
Chợt ngẩn ngơ ngày ngắn
Rồi lơ đãng lối dài
Đã hay mây gió lặng
Lại biết sông hồ ngây
Khi chẳng là ta nữa
Còn ai thán với ai !

1990
Thái Thanh Nguyên

Bỗng nhiên

Bỗng nhiên ta gặp nửa ta
Bồng bềnh trong cái gọi là nhân gian
Tức thì rót nửa em sang
Trong veo hạt bụi hòa tan đêm ngày

1992
Thái Thanh Nguyên

Vùng tối sáng
(Họa thơ Hồ Huy Hoàng)

Ra đi háo hức nhặt hương đời
Mỗi bước tóc bồng lặng lẽ rơi
Chỉ thấy ngày đêm trồi mạch đất
Và nghe mưa gió dội cung trời
Chén say còn lửng ai đành dứt
Giấc ảo chưa đầy mộng chẳng vơi
Nửa kiếp quẩn quanh vùng tối sáng
Chợt thương quê cũ ánh trăng ngời

Bình Định, 14.06.03
Thái Thanh Nguyên

Vô biên

Tự nhiên trời trải trang mây
Cho ta vẽ cát bụi này vô biên
Đâu đây có nụ cười duyên
Của ai ta cứ triền miên vẽ hoài
Kéo dài ngọn bút thiên thai
Trăm năm chưa vẽ hết ngày trần gian

1993
Thái Thanh Nguyên

Khuyết đề

Nhặt mây lùa gió dựng thiên đường
Vốc lại trong tay nắm tuyết sương
Nửa bước trần ai sao thấy nhẹ
Một vòng mệnh số mãi xem thường
Thổi bầu lửa hạ nung thi tứ
Gom mớ tro đông ủ cú chương
Lắng giữa biển đời… nghe róc rách
Thoáng qua chiếc nhạn nét miên trường

Hội An, 19.06.03
Thái Thanh Nguyên

Tự tình trước biển

Đến đây ta lặng nhìn sóng biển
Biển sóng cuồng mà mềm mại biết bao
Biển thủy chung yêu dấu tự thuở nào
Không gặp em ta ngỡ như vẫn gặp

Em thường bảo ta hiền hơn đất
Em đi hoài sẽ dẫm kín đất không em?
Ta chỉ thấy em diệu kỳ như biển
Vì ta cũng không sao ôm sóng biển mang về

2002
Thái Thanh Nguyên

Bồi khuyết
(Cảm họa thơ Thích Thiện Thông)

Lặng ngắm đầu non nhớ mẹ quê
Nắng mưa dầu dãi chẳng câu nề
Những mong con trẻ nương bờ giác
Nên dấn thân già trụ bến mê
Bởi lẽ cơ duyên dồn bước đến
Nên chi tình nghĩa chậm chân về
Kiếp người cho dẫu dày công cán
Bồi trước khuyết sau gẫm chán chê

10.2003
Thái Thanh Nguyên

Còn em

Ngày lại ngày vẫn bát cơm
Mà ta nghe cỏ trong vườn nghêu ngao
Đêm về chỉ với trăng sao
Lắng trông vũ trụ xanh màu… à ơi
Ta còn em
chỉ ngần thôi

2000
Thái Thanh Nguyên

Toàn tập đăng trong trang blog cá nhân: http://blog.360.yahoo.com/tgthaithanhnguyen

Ngàn hương dội bóng

Ngàn hương dội bóng
Thơ Bình Nguyên

Nhà xuất bản Thanh Niên
Chịu trách nhiệm xuất bản: Mai Thời Chính
Biên tập: Hoàng Văn
Bìa: Vương Chi Lan
Trình bày: Tuổi Ngọc Design

Khúc giao từ

Ngàn hương dội bóng – lộ trình miên viễn của nhân sinh

Rất ngẫu nhiên mà không ngẫu nhiên khi trước mắt ta thể hiện một đoạn đường tàu chiều nối liền hương ngàn và bóng nhớ – bởi tự bao giờ con tàu sân ga đã là biểu tượng cho nỗi niềm của kẻ ở người đi

Sự phẳng lặng trầm lắng của hoàng hôn bỗng hóa ra một vùng áp thấp cho ký ức ngàn phương tràn về. Từ đó quặn lên những làn âm ba nhẹ nhàng nhưng khắc khoải, xa xăm nhưng mãnh liệt, dặt dìu nhưng khúc khuỷu… để rồi kết tủa nên muôn hình vạn trạng của ngôn từ và giai điệu thơ ca.

Vọng tiếng sân ga chiều tiễn biệt
còn nghe văng vẳng cuối đường tàu
(Nhớ )

Do đó hoàng hôn hiển nhiên trở thành giao thời diệu hữu nhất của quá khứ và vị lai, của nhận thức và tiềm thức – nơi đây người ta dễ đạt đến mức chín muồi sự chứng nghiệm bao điều trải qua trong cuộc đời để toát lên một tiền đề cho mai sau.

Hương ngàn xưa luôn hóa thân vào ngàn hương ngàn sắc tít tắp nơi xa qua chập chùng bóng nhớ. Tất cả tự nó thản nhiên luân lưu trên lộ trình miên viễn của nhân sinh khi biết rằng con đường ta đi tới đích là con đường trở về nguồn cội.

Mùa thu 2006
Thái Thanh Nguyên

Đôi dòng về Ngàn hương dội bóng

Tôi quen anh Bình Nguyên từ ngày gặp nhau tại Tổng hội Sinh viên số 4 đường Duy Tân khoảng giữa năm 1970. Anh quê Quảng Nam, tôi quê Quảng Ngãi cùng chung tâm trạng xa nhà “du học”. Những lúc ngồi bên đường uống nước anh thường đọc thơ cho tôi nghe và nhìn về quê hương đăm chiêu theo khói thuốc, tôi hỏi anh có gì buồn? – Anh trả lời
“L’ amour de la patrie mà em…”

Cho đến hôm nay tình cảm đó anh đã gói gắm trong tập thơ “Ngàn hương dội bóng” trao cho tôi đọc. Tôi nhớ lại câu nói trên của anh và liên tưởng đến tác phẩm “Tâm Hồn Cao Thượng” của văn hào Ý Edmond D’Amicis mà Hà Mai Anh đã dịch có đoạn: “Một buổi sáng đứng tựa lan can tàu nghe có người nói tiếng nước con, trào lệ cảm ở lòng con dâng lên và miệng con buột ra những tiếng kêu mừng rỡ”. Bây giờ đọc những bài anh viết về quê hương có câu:

Hồn hoang đi khắp bốn phương
tình quê đứng khựng giữa đường chiêm bao
(Giữa đường)

Tôi mới cảm thấy tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê hương của anh mãnh liệt đến mức độ nào. Cảm xúc này không chỉ riêng ở trong anh mà mọi người xa quê đều có, nhưng anh diễn đạt trong thơ bằng trạng thái “đứng khựng giữa đường” khiến tôi có cảm giác như sững sờ bất động mỗi lần nhớ đến quê hương khi đọc lại hai câu thơ ấy.

Từ “trào lệ cảm ở lòng con dâng lên” đến “đứng khựng giữa đường chiêm bao” hình ảnh quê hương luôn hằn sâu trong niềm thương nỗi nhớ với bóng dáng cây đa – bến nước – sân đình của thời xa xưa “dội” lại những kỷ niệm không quên trong thơ anh:

Cây đa bến nước sân đình
hỏi anh – thơ thẩn tìm hình bóng ai ?
(Tìm em)

Trên bước đường tha phương, suốt cuộc hành trình của một đời thơ giữa con người với thiên nhiên, giữa tình yêu và cuộc sống anh đã ôm ấp đúc kết bằng thứ tình yêu quảng đại để cuối đời “xin gửi đến người muôn phương” quả là thứ tình bao la đồng điệu. Thứ tình yêu đó được trộn lẫn sắc màu quê hương phảng phất trong suốt tập thơ bằng những ngôn từ gợi nhớ đầy ấn tượng như những viên gạch kỹ thuật cấu trúc thành bức tường kiên cố vậy.

Sài Gòn cuối thu 2006
KTS: Lê Ngọc Anh