Lương Châu từ – khúc bi ca thời chiến

LƯƠNG CHÂU TỪ – khúc bi ca thời chiến

Lương Châu từ là khúc hát Lương Châu, tức khúc hát về miền biên ải. Bước tri nhập đầu tiên từ đầu đề tác phẩm đã cho người đọc thấy rõ tình điệu chung của thi phẩm. Đây là loại đầu đề dựa vào tên một khúc thức của nhạc phủ như Thanh Bình Điệu, Trường Can Hành, Thiếu Niên Hành, Chiết Liễu Chi Từ, Thái Liên Khúc,… Nhưng Thái Liên Khúc có âm hưởng vui tươi, ca ngợi cuộc sống, còn Lương Châu Từ lại là nỗi cực khổ của người lính nơi biên ải.

Người Việt Nam say mê thi cổ Trung Hoa không mấy ai không biết đến bài thơ tứ tuyệt kỳ diệu Lương Châu Từ, dù có thể Vương Hàn là ai họ không hề biết. Bởi bài thơ “biên tái” ít nhiều này đụng đến vấn đề muôn thuở của loài người Việt: con người giữa thời chiến tranh. Trong chén rượu “ ly bôi” giữa phút ngập ngừng ở những cuộc tiễn đưa diễn ra đều ly kỳ và quá nhiều, chúng ta có cảm thức của Lương Châu Từ, một cảm thức rành rẽ về nỗi đau khó nói được che giấu đi nhưng vẫn mặc khái những điều thành thật của tâm hồn con người và thời đại.

Như bất cứ một bài thơ tứ tuyệt thông thường, Lương Châu Từ có thể chia thành hai phần rõ rệt. Hai câu đầu dùng để tả thực, kể sự:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi

( Bồ đào rượu ngát chén lưu ly
Toan nhắp tì bà đã giục đi)

Còn hau câu sau là tình cảm, là ý tưởng, là thái độ của con người về một hiện thực rộng lớn hơn, khái quát hơn:

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

(Say khướt sa trường anh chớ mỉa
Xưa nay chinh chiến mấy ai về?)

Thơ tứ tuyệt đời Đường thiên về những vấn đề lớn của nhân loại hơn là lịch sử một cá nhân. Nhân vật trữ tình vì thế tự phóng mình ra khỏi chiều thời gian tuyến tính, xoá nhoà thời gian và những ràng buộc vụn vặt để kiểm nghiệm, suy tư. Thế nhưng vì giới hạn âm tiết, nhà thơ luôn chọn những thời khắc nhạy cảm, dồn nén nhiều tâm trạng nhất. Ở Lương Châu Từ cũng vậy, đấng nam nhi được đặt trong tình thế “lưỡng nan”: một bên là “bồ đào mỹ tửu”; một bên là “dục ẩm tì bà mã thượng”. Hai câu thơ đầy chất ước lệ. nhưng đấy lại là một ước lệ sáng giá vì nó làm hiện rõ chân dung nhân vật. Không chỉ vậy, nó tạo dựng một kịch tính, một kịch tính không chỉ của một người mà của cả một thời đại. Giữa hai khoảng không của câu thơ là một trường liên tưởng lớn về con người và thời đại, một bên là những gì mời gọi, hưởng lạc, một bên là tiếng réo gọi ra sa trường. Toàn bộ thảm kịch của đời chất chứa trong sự bâng khâng lựa chọn và cố gắng có ý nghĩa ấy của nhân vật. “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi” là cuộc sống phồn hoa nơi Trường An kinh đô mua cười nghìn trận của bề trên. Còn trên lưng ngựa, tiếng tì bà réo gào của kẻ bề dưới chỉ biết tuân mệnh cứ giục đi.

Đi đâu, câu thơ bỏ ngỏ, mai phục… đi để làm gì, câu thơ không nói,… chỉ biết thứ tiếng “tì bà mã thượng” ấy thật kinh khiếp, nó là âm vang của một sự hãi hùng vô ảnh, dư sức đẩy một thân phận ra đi, dư sức dập tắt một khao khát trần thế hưởng lạc nhanh chóng.

Lương Châu từ có cái hay đạt đến độ “kinh nhân” trong ngữ pháp riêng biệt của nó. Câu đầu là một thế giới tĩnh: bồ đào mỹ tửu, dạ quang bôi. Nó chỉ có sự vật chỉ có danh từ. Đấy là thế ổn định của một cuộc sống song song đẹp, một cuộc sống đáng sống. Nhưng câu hai lại lại là sự náo loạn của cảnh “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt – Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây” . Câu thơ dùng tới ba động từ và một trợ động từ : dục, ẩm, thượng, thôi, đó là sự gấp gáp liên tiếp phá huỷ đến tận cùng hy vọng sống, là sự dồn đẩy của chiến tranh đối với con người.

Từ thế đối lập của các hình ảnh thơ ấy, ta biết rằng không ai có thể trách cứ “tuý ngoạ” say khướt của người ấy. Đấy chỉ là sự “sinh động con người” của một thân phận bị lưu đày trên mặt đất giữa thời chiến tranh.

Cái kì diệu ở cách tả tình ở hai câu thơ sau là sự xoá nhoà được ranh giới giữa người sáng tác và người đọc. Nhân vật trữ tình như ở bên chúng ta, thậm chí ở trong chúng ta. Nó vừa như chạm ly, vừa như chạm tình. “Quân mạc tiếu”, anh đừng cười nhé , nhẹ nhàng mà thâm thuýbiết bao ân tình và con người biết bao.

Câu thơ dường như nối được vòng tay những con người lại với nhau, một vòng tay nhân bản, dù những vòng tay ấy không chống đối được thế mệnh. Câu thơ cuối cùng buông nhẹ một chân lý, mọt chân lý đã cũ như mấy ngàn năm chiến tranh quen thuộc. Nhưng vì chân lý ấy, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” chỉ đầy sự phi lý nên câu thơ đặt trong hình thức câu hỏi, như một vấn nạn thời đại. Hơn nữa, đó cũng là vấn nạn của nhân loại mà thơ tứ tuyệt đời Đường dù chỉ bé bằng bàn tay nhưng chứa đầy thế giới đã vẫn phổ quát được.

Rõ ràng, nhờ sự xoá nhoà “ma mãnh” đầy nghệ thuật ấy, hiện thực vẫn được hiện diện và phô bày phần bản chất của nó. Lương Châu Từ vì thế là khúc hát nhân bản về nỗi đau khó tả của con người giữa lòng chiến tranh. Và nhờ thế ta cũng hiểu được vì sao Lương Châu Từ trở thành bài thơ nằm lòng của người Việt Nam mấy trăm năm qua…

LÊ QUANG ĐỨC

Advertisements

4 thoughts on “Lương Châu từ – khúc bi ca thời chiến

  1. Anh Đức à, tạp chí Hồn Việt số tháng 5 mới ra, có một bài nói về nghĩa của câu thơ thứ hai: dục ẩm tì bà mã thượng thôi. Theo bài này thì tì bà mã thượng thôi không phải là đàn tì bà dục đi ngay (mã thượng có nghĩa là ngay). Một là : chưa bao giờ có việc dùng tiếng đàn tì bà để thúc giục cả, mà thường là dùng trống.( Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt). Vì ở vùng phía bắc Trụng quốc xưa có lối ngồi trên lưng ngựa gẩy đà tì bà, đấy là một lối chơi điệu nghệ, điều này rất ít người biết. Nên câu thơ có nghĩa là : muốn uống rượu trong tiếng đàn tì bà gảy trên lưng ngựa thôi thúc. Cũng như ta uống rượu trong quán với giàn nhạc phục vụ bây giờ ấy.
    Điều này có vẻ đúng. Mà như vậy thì cách giải mã bài thơ như trên lại không ổn rồi. Ta trao đổi vậy thôi, cùng xem lại anh nhé. Chúc anh khỏem

    • Bạch Mai cảm ơn bạn đã lưu tâm kỹ bài viết của tác giả Lê Quang Đức và có ý kiến rất hay. Nhưng có lẽ bạn vừa đọc xong bài từ Hồn Việt nên còn say tâm đắc. Trước khi xông ra trân mạc các tướng lĩnh mời rượu nhau trong khúc tỳ bà nơi doanh trại để tăng sĩ khí cũng là chuyện dễ hiểu thôi. Nếu không hài lòng với lời giải thích của Bạch Mai, phiền bạn trao đổi trực tiếp tác giả để BM được mở rộng thêm tầm thẩm thấu nhé. lequangduc@gmail.com
      Thân mến

  2. theo tôi “mã thượng thôi” có lẽ phải hiểu là “vừa thưởng thức rượu vừa nghe đàn tỳ bà trên lưng ngựa”. Người lính hành quân ra sa trường vừa uống rượu vừa nghe đàn tất cả trên lưng ngựa trong chuyến hành quân thật là hùng tráng. Và khi đi chẳng cần biết ngày về nên mới có 2 câu tiếp “Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?” Tôi nghĩ nên có nghĩa là “đi chiến trận ai dám chắc ngày về (ai dám cười khúc khải hoàn)/ Xưa nay chinh chiến mấy ai về.

    Rượu ngon cứ chén tì tì
    Lắc lư yên ngựa vui nghe tỳ bà
    Chiến trường ai dám nói hay
    Xưa nay chinh chiến mấy ai còn về

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s